Nghị định 308 - Đẩy mạnh số hóa di sản trong giai đoạn mới

Ngày 28/11/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 308/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Di sản văn hóa. Điểm mới nổi bật của Nghị định 308 là đẩy mạnh số hóa di sản, thích ứng với yêu cầu của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, qua đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong bối cảnh mới.
Việc ban hành Nghị định 308 được đánh giá là bước đi quan trọng, tạo hành lang pháp lý đồng bộ để di sản Việt Nam không chỉ được lưu giữ an toàn mà còn được khai thác, lan tỏa giá trị rộng rãi trên không gian số.
Nhận diện những “điểm nghẽn” trong số hóa di sản
Di sản văn hóa - những “báu vật tinh thần” được lưu truyền qua nhiều thế hệ – là nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực du lịch, giáo dục và công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công tác số hóa di sản tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức.
Ngày 8/10/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2026/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, với mục tiêu số hóa 100% di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, bảo tàng và di sản tư liệu. Dù vậy, tiến độ triển khai tại nhiều địa phương còn chậm do hạn chế về hạ tầng kỹ thuật, phương thức quản lý truyền thống, nguồn nhân lực và kinh phí.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền - chuyên gia Di sản học (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng: mỗi địa phương có hàng nghìn di sản, trong khi để số hóa một di sản cần rất nhiều công sức, thời gian và nguồn lực tài chính. Kinh phí hạn chế khiến nhiều dự án kéo dài hàng chục năm, dẫn tới dữ liệu bị phân tán, khó tra cứu và chia sẻ. Không ít tài liệu quý đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, mai một do lão hóa vật lý hoặc tác động của thiên tai. Bên cạnh đó, việc thiếu cơ chế quản lý bản quyền dữ liệu số cũng làm gia tăng nguy cơ sao chép trái phép, ảnh hưởng đến giá trị thương mại của di sản.
Một rào cản lớn khác là nguồn nhân lực. Việt Nam hiện chưa có chuyên ngành đào tạo bài bản về “di sản số”, đội ngũ cán bộ chủ yếu được đào tạo theo hướng nghiên cứu hoặc quản lý truyền thống, thiếu kỹ năng và tư duy công nghệ.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trọng Dương (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) phân tích: số hóa di sản ở nước ta hiện mới dừng lại ở sự phối hợp giữa hai nhóm nhân sự - văn hóa và công nghệ. Trong khi đó, nhiều quốc gia đã phát triển mạnh các ngành đào tạo “nhân văn số”, nơi con người vừa hiểu sâu về văn hóa, vừa thành thạo công nghệ. Đây chính là hướng đi lâu dài để hình thành đội ngũ chuyên gia phục vụ hiệu quả cho công tác số hóa di sản.
Những điểm sáng từ thực tiễn chuyển đổi số di sản
Thời gian qua, Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xem là một trong những mô hình tiêu biểu về số hóa di sản. Theo bà Nguyễn Liên Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa - Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, chuyển đổi số là “cơ hội vàng” để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích.
Đơn vị đã triển khai nhiều giải pháp như: số hóa tài liệu, hiện vật; xây dựng hệ thống tham quan số; tạo lập cơ sở dữ liệu 3D gắn với nghiên cứu văn hóa - lịch sử; số hóa hoa văn cổ trên hiện vật và kiến trúc để phát triển sản phẩm lưu niệm đặc trưng, đáp ứng nhu cầu của du khách, đặc biệt là khách quốc tế và giới trẻ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số vẫn gặp không ít rào cản, từ hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ đến tâm lý e ngại thay đổi của một bộ phận cán bộ.
Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, nguyên Quyền Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam nhấn mạnh: chuyển đổi số trong văn hóa không chỉ là “đưa dữ liệu lên mạng”, mà là sự chuyển đổi toàn diện về tư duy bảo tồn, cách tiếp cận công chúng và phương thức biểu đạt di sản trên không gian số.
Nghị định 308 được kỳ vọng sẽ tháo gỡ các nút thắt tồn tại, mở ra “cánh cửa số” cho di sản Việt Nam. Theo Nghị định, nội dung chuyển đổi số di sản văn hóa bao gồm:
- Xây dựng, quản trị và vận hành các nền tảng số, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa;
- Ban hành và áp dụng các bộ tiêu chuẩn dữ liệu số;
- Tạo lập dữ liệu số phục vụ công tác truyền thông, quảng bá di sản trên môi trường điện tử.
Nghị định yêu cầu việc số hóa, lưu trữ, khai thác và sử dụng dữ liệu di sản phải được thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; đồng thời ưu tiên sử dụng công nghệ mã nguồn mở và phần mềm trong nước.
Điểm đổi mới quan trọng là sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy quản lý: di sản không chỉ được số hóa hồ sơ, tư liệu mà còn được ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn, giám định và phát huy giá trị, hướng tới mục tiêu cộng đồng được tiếp cận di sản một cách bình đẳng.
Bên cạnh đó, Nghị định 308 cũng quy định rõ yêu cầu về quản trị và vận hành dữ liệu số quốc gia về di sản văn hóa (Điều 88), góp phần bảo đảm an toàn, bảo mật, tính toàn vẹn dữ liệu và quyền của chủ sở hữu, đơn vị quản lý di sản.
Định hướng chiến lược cho số hóa di sản bền vững
Các chuyên gia đánh giá, Nghị định 308 là bước tiến chiến lược, giúp di sản Việt Nam chuyển từ mô hình bảo tồn thụ động sang phát huy chủ động thông qua số hóa. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) khẳng định: chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ và phát huy giá trị di sản, đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững.
Theo Tiến sĩ Bàn Tuấn Năng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), số hóa di sản là một quá trình lâu dài, đòi hỏi chiến lược tổng thể và sự phối hợp liên ngành. Trước mắt, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm:
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về di sản văn hóa, với chuẩn kỹ thuật chung và khả năng liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương;
- Mỗi di sản cần có mã định danh số để thuận tiện trong quản lý và khai thác;
- Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực số trong lĩnh vực văn hóa, mở các chuyên ngành về công nghệ bảo tồn, số hóa và quản trị dữ liệu;
- Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ tham gia với vai trò đối tác chiến lược, thúc đẩy mô hình hợp tác công - tư, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng và xây dựng chuẩn, doanh nghiệp đảm nhiệm phần công nghệ và truyền thông.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, khi khu vực tư nhân tham gia sâu vào quá trình số hóa, tiến trình này sẽ diễn ra nhanh hơn và bền vững hơn. Với hành lang pháp lý mới từ Nghị định 308, số hóa di sản văn hóa Việt Nam đang đứng trước cơ hội chuyển mình mạnh mẽ trong giai đoạn phát triển mới.
Theo Nhandan
Hotline 0941 886 161
Liên hệ qua Zalo
Messenger